Trong hai ngày 1-2/2 (tức mùng 10 và 11 tháng Giêng) tại bến Pá Uôn,xã Chiềng Ơn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La đã diễn ra Lễ hội đua thuyền truyền thống vượt sông Đà lần thứ 2 do huyện tổ chức kể từ khi hồ thuỷ điện Sơn La tích nước và di chuyển huyện lỵ cũ, xây dựng huyện lỵ Quỳnh Nhai mới tại Phiêng Lanh.
< Cầu Pá Uôn trong ngày hội đua thuyền.
Tham gia thi đấu và đua thuyền có 11 đội (trên 527 vận động viên) của các xã trong huyện Quỳnh Nhai và huyện Thuận Châu.
Lễ hội đua thuyền diễn ra sôi nổi ngay bên cầu Pá Uôn (QL 279), cầu vượt hồ Sông Đà có trụ cao nhất Việt Nam (cao 98m, dài 923m). Lễ hội không chỉ thu hút hàng ngàn đồng bào các dân tộc trong huyện, bà con các bản tái định cư trong tỉnh, mà còn có đông đảo nhân dân ở các huyện giáp gianh như Tuần Giáo, Tủa Chùa (huyện Điện Biên), Tân Uyên, Than Uyên (tỉnh Lai Châu) đến xem hội.
< Lễ dâng hương miếu thờ thần linh tại bên hồ sông Đà, xã Chiềng Ơn, Quỳnh Nhai.
< Cúng miếu Nàng Han (miếu thờ vị nữ Anh hùng có công đánh đuổi giặcPhẻ - phương Bắc).
< Các vận động viên “chân đất”.
Đối với người dân sống hai bên dòng sông Đà thuộc huyện Quỳnh Nhai, chèo thuyền là hoạt động tiêu biểu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của đồng bào Thái. Vừa thể hiện tinh thần chịu khó trong lao động sản xuất cũng như sự kiên cường, linh hoạt khi đối mặt với thiên nhiên.
< Đua thuyền nữ đang xuất phát.
Trong phần lễ, Ban tổ chức lễ hội cùng bà con các dân tộc đã thực hiện nghi lễ dâng hương tại miếu thờ Thần linh và miếu thờ Nàng Han được bà con “đón rước” từ bến Mường Chiên (huyện lỵ Quỳnh Nhai cũ) về.
< Đua Nam (mỗi thuyền 20 VĐV với cự ly 1.600m).
Đây là những vị thần linh thiêng đối với bà con dân tộc Thái vùng thượng nguồn sông Đà. Các đội thi đấu các nội dung gồm: đua thuyền nam cự ly 1.600 mét; Đua thuyền nữ và nam nữ phối hợp cự ly 1.400 mét.
< Quyết liệt trên đường đua vượt hồ sông Đà.
Do đặc điểm đất nước Việt Nam ta nhiều sông nước, cả miền Bắc và Miền Nam. Với một địa hình như vậy trong đời sống văn hoá tín ngưỡng và lễ hội không thể không chịu ảnh hưởng sâu sắc: thờ thuỷ thần, hội đua chải, đua ghe đã là những mảng quan trọng trong văn hoá lễ hội, trong đời sống tinh thần của nhân dân.
< Trống dục liên hồi cổ vũ các đội đua thuyền.
< Đua về đích (đội đua nam).
< Đội đua phối hợp Nam - Nữ.
Hội đua thuyền ở nước ta có trên 3000 năm đã trở thành truyền thống lâu đời trong đời sống văn hoá. Trên thân các trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà, Quảng Xương… đều có chạm hình những chiếc thuyền đang đua bơi.
< Đua về đích của đội Nam - Nữ.
Nhiều sách đã ghi lại tài nghệ bơi lặn, đua thuyền của nhân dân ta. Sách Tuỳ thư (địa lý chí) và Việt sử lược cho biết: lễ hội đua thuyền thời Tiền Lê, thời Lý phát triển mạnh.
Những cảnh khắc hoạ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và hình dạng con thuyền của người Việt thời tiền sử càng cho thấy rõ hơn truyền thống sông nước của nhân dân ta. Đó chính là những cuộc đua trong hội nước, là cảnh hội làng mà trong đó nghi lễ chủ yếu liên quan tới nước.
Du lịch, GO! - Theo Bee.net + Cổng giao tiếp điện tử tỉnh Phú Thọ
Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012
Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012
Nhà sàn dáng rùa thiêng miền thung lũng
Ngôi nhà sàn Mường chứa đựng nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống, đồng thời cũng là nơi hội tụ và tỏa sáng tình người giữa rừng núi bao la cửa ngõ vùng Tây Bắc.
Sự tích về ngôi nhà sàn của người Mường
Đồng bào Mường cư trú ở các thung lũng vùng đồi núi thấp, ven sông suối nơi có dồi dào nguồn nước. Theo truyền thuyết cổ xưa từ thời khai thiên lập địa, đẻ đất, đẻ nước đồng bào cư trú trong các vòm hang mái đá lưỡng tiện cho tập quán săn bắt, hái lượm.
Khi biết trồng trọt và chăn nuôi, tiếp cận với nền sản xuất lúa nước thì hang đá không còn phù hợp với cuộc sống canh tác mới. Bà con khao khát, mày mò tìm cách tạo dựng ngôi nhà của riêng mình nhưng không tài nào làm được.
May nhờ cứu vớt con rùa thoát khỏi móng vuốt loài thú dữ ăn thịt, nên người Mường được rùa bày cho cách làm nhà mô phỏng theo dáng rùa. Nghe theo lời rùa, bà con làm bốn cái cột cái giống hệt bốn chân rùa, mái nhà giống hệt mai rùa, sàn nhà giống hệt bụng rùa, cầu thang chủ giống hệt đuôi rùa, cầu thang khách giống hệt đầu rùa.
Cách bố trí không gian sống
Người Mường từ đó có nhà sàn to đẹp tiện dụng vừa có mái che độ mát giống vòm hang vừa có sự hanh thông thoáng đãng của sàn nhà cao ráo. Cửa sổ, cầu thang tiện dụng dễ dàng giao hòa với thiên nhiên hào phóng lại ngăn được thú dữ, thú độc hại người. Gia súc, gia cầm nuôi trong nhà thêm điều kiện sinh sôi nảy nở đông đàn dài lũ. Trải qua đời này sang đời khác tín ngưỡng và những nét sinh hoạt văn hóa dân gian dần dần được hình thành ngày càng lộ rõ nét đẹp đặc sắc của ngôi nhà sàn Mường.
Ngôi nhà truyền thống của người Mường xưa được dựng với bốn cột trụ chính (cột cái) tùy theo sự mở rộng có thể có các hàng cột phụ (cột quân) chạy xung quanh. Hệ thống kèo xà với cột không hề có mộng mẹo để lắp ghép mà gác lên nhau rồi tra chốt đỡ để cố định. Công cụ làm nhà tuyệt đối không dùng cưa đục, không đóng đinh mà chỉ sử dụng rìu, dao và đóng chốt bằng tre, chốt gỗ.
Ngôi nhà Mường có 4 mái gồm mái trước, mái sau rộng và mái hẹp hai đầu chái nhà. Mái dựng khá dốc và thấp xuống lưng cửa sổ đủ để chắn gió che sương, chống mưa rừng hắt tạt xối xả vào sàn nhà. Người Mường cư trú từng bản, chòm bản nên từ xa ngắm các ngôi nhà sàn hệt như bầy rùa bám vào sườn đồi, lưng núi hay đang ẩn mình dưới thung lũng xa.
Trong ngôi nhà Mường truyền thống bao giờ cũng có bếp chủ bếp khách, cầu thang chủ cầu thang khách. Bếp khách ở vị trí trung tâm nơi giao tiếp, nấu nướng, phơi sấy chủ yếu. Bếp chủ lui khuất vào phía trong là chốn riêng tư và để sưởi ấm không gian ngủ nghỉ. Cầu thang bao giờ cũng làm với bậc lên xuống lẻ, năm, bảy, chín. Thông thường là chín bậc nên được ví von chín bậc tình yêu là thế.
Vật dụng trong nhà sàn không thể thiếu được là bàn thờ gia tiên và ngoài sân, trong vườn thêm cái miếu thờ thổ công rất nhỏ. Trong nhà thường có nhiều chăn, đệm, gối của hồi môn con dâu mang về nhà chồng cùng nhiều vật dụng như rượu cần, nỏ, súng kíp, chài lưới, khung dệt thổ cẩm và nhạc cụ dân tộc. Phổ biến nhất là cồng chiêng, sáo, nhị cò ke, sừng trâu, sừng hươu, nai, hoẵng, răng nanh hổ, báo, gấu, lợn lòi làm vật trang trí mĩ thuật và coi đó là vật thiêng.
Dưới gầm sàn không thể thiếu các ống bương đựng nước, máng vò lúa, cối giã gạo, những đôi cà kheo thay cho gốc dép để đi lại trong sân, ngoài ngõ. Đôi khi máng vò lúc cùng với chày giã gạo được tấu lên thành bản nhạc gõ nhịp tiết tấu của rừng. Sát bên cầu thang khách có vại nước, gáo múc bằng ống tre để khách rửa tay chân trước khi lên nhà sàn. Cách nhà không xa nơi có nguồn nước chảy qua bao giờ cũng có cối gạo nước và guồng nước chuyển động luân hồi theo nhịp sống của bản Mường. Cũng vì thế nên người Mường luôn tự hào về văn hóa cư trú nhà sàn của mình qua câu tục ngữ "Cơm đồ nhà gác, nước vác lợn thui, ngày lui tháng tới".
Văn hóa tín ngưỡng
Người Mường có phong tục hiếu khách đặc biệt "Trâu ra đồng ăn cỏ, người lên nhà ăn cơm". Gia đình, vợ chồng không cãi chửi nhau, cha mẹ không bao giờ đánh mắng con cái. Chính vì thế mà ngôi nhà Mường luôn luôn là tổ ấm bình yên, nơi giao đãi tiếp khách nồng hậu, có thể trở thành điểm sinh hoạt cộng đồng hấp dẫn, quyến rũ mỗi khi có việc nhà, việc bản. Lúc đó tiếng cồng chiêng lại ngân nga trầm bổng, làn điệu dân ca Mường hát lời thương lại tha thiết lắng sâu và rượu cần lại có dịp tỏa hương vấn vít.
Mỗi độ đón mùa xuân về đan xen với mái nhà sàn Mường là những vườn hoa mơ nở rộ trắng muốt tinh khiết, phảng phất hương thơm của núi rừng. Dịp đó, nhà nào cũng dựng cây nêu trước nhà theo tín ngưỡng dân tộc để cho ông bà tổ tiên biết lối về. Cây nêu được chọn là cây tre đẹp mã, dáng thẳng cao vút đến ngọn để chừa lại tán lá. Sau lễ khai hạ, Rằm tháng giêng mới hạ cây nêu.
Vào đêm 30 Tết, trước thời khắc giao thừa, các cô gái Mường trẻ trung xinh đẹp thường vác ống bương lên tận mó nước ngọn suối đầu nguồn lấy nước về. Đón giao thừa, mọi ống bương đựng nước trong nhà sàn đều đầy ăm ắp. Nước đó được rót ra bát cúng tổ tiên cùng với mâm ngũ quả và bánh chưng dạng ống, giống như bánh tét ở các tỉnh miền Nam.
Cho đến bây giờ đồng bào Mường vẫn coi rùa là con vật thiêng trong tín ngưỡng dân gian bản địa của mình. Đồng bào không ăn thịt rùa và luôn tự hào về ngôi nhà sàn là công trình phỏng sinh học tuyệt vời của dân tộc mình.
Du lịch, GO! - Theo Làng Việt, internet
Sự tích về ngôi nhà sàn của người Mường
Đồng bào Mường cư trú ở các thung lũng vùng đồi núi thấp, ven sông suối nơi có dồi dào nguồn nước. Theo truyền thuyết cổ xưa từ thời khai thiên lập địa, đẻ đất, đẻ nước đồng bào cư trú trong các vòm hang mái đá lưỡng tiện cho tập quán săn bắt, hái lượm.
Khi biết trồng trọt và chăn nuôi, tiếp cận với nền sản xuất lúa nước thì hang đá không còn phù hợp với cuộc sống canh tác mới. Bà con khao khát, mày mò tìm cách tạo dựng ngôi nhà của riêng mình nhưng không tài nào làm được.
May nhờ cứu vớt con rùa thoát khỏi móng vuốt loài thú dữ ăn thịt, nên người Mường được rùa bày cho cách làm nhà mô phỏng theo dáng rùa. Nghe theo lời rùa, bà con làm bốn cái cột cái giống hệt bốn chân rùa, mái nhà giống hệt mai rùa, sàn nhà giống hệt bụng rùa, cầu thang chủ giống hệt đuôi rùa, cầu thang khách giống hệt đầu rùa.
Cách bố trí không gian sống
Người Mường từ đó có nhà sàn to đẹp tiện dụng vừa có mái che độ mát giống vòm hang vừa có sự hanh thông thoáng đãng của sàn nhà cao ráo. Cửa sổ, cầu thang tiện dụng dễ dàng giao hòa với thiên nhiên hào phóng lại ngăn được thú dữ, thú độc hại người. Gia súc, gia cầm nuôi trong nhà thêm điều kiện sinh sôi nảy nở đông đàn dài lũ. Trải qua đời này sang đời khác tín ngưỡng và những nét sinh hoạt văn hóa dân gian dần dần được hình thành ngày càng lộ rõ nét đẹp đặc sắc của ngôi nhà sàn Mường.
Ngôi nhà truyền thống của người Mường xưa được dựng với bốn cột trụ chính (cột cái) tùy theo sự mở rộng có thể có các hàng cột phụ (cột quân) chạy xung quanh. Hệ thống kèo xà với cột không hề có mộng mẹo để lắp ghép mà gác lên nhau rồi tra chốt đỡ để cố định. Công cụ làm nhà tuyệt đối không dùng cưa đục, không đóng đinh mà chỉ sử dụng rìu, dao và đóng chốt bằng tre, chốt gỗ.
Ngôi nhà Mường có 4 mái gồm mái trước, mái sau rộng và mái hẹp hai đầu chái nhà. Mái dựng khá dốc và thấp xuống lưng cửa sổ đủ để chắn gió che sương, chống mưa rừng hắt tạt xối xả vào sàn nhà. Người Mường cư trú từng bản, chòm bản nên từ xa ngắm các ngôi nhà sàn hệt như bầy rùa bám vào sườn đồi, lưng núi hay đang ẩn mình dưới thung lũng xa.
Trong ngôi nhà Mường truyền thống bao giờ cũng có bếp chủ bếp khách, cầu thang chủ cầu thang khách. Bếp khách ở vị trí trung tâm nơi giao tiếp, nấu nướng, phơi sấy chủ yếu. Bếp chủ lui khuất vào phía trong là chốn riêng tư và để sưởi ấm không gian ngủ nghỉ. Cầu thang bao giờ cũng làm với bậc lên xuống lẻ, năm, bảy, chín. Thông thường là chín bậc nên được ví von chín bậc tình yêu là thế.
Vật dụng trong nhà sàn không thể thiếu được là bàn thờ gia tiên và ngoài sân, trong vườn thêm cái miếu thờ thổ công rất nhỏ. Trong nhà thường có nhiều chăn, đệm, gối của hồi môn con dâu mang về nhà chồng cùng nhiều vật dụng như rượu cần, nỏ, súng kíp, chài lưới, khung dệt thổ cẩm và nhạc cụ dân tộc. Phổ biến nhất là cồng chiêng, sáo, nhị cò ke, sừng trâu, sừng hươu, nai, hoẵng, răng nanh hổ, báo, gấu, lợn lòi làm vật trang trí mĩ thuật và coi đó là vật thiêng.
Dưới gầm sàn không thể thiếu các ống bương đựng nước, máng vò lúa, cối giã gạo, những đôi cà kheo thay cho gốc dép để đi lại trong sân, ngoài ngõ. Đôi khi máng vò lúc cùng với chày giã gạo được tấu lên thành bản nhạc gõ nhịp tiết tấu của rừng. Sát bên cầu thang khách có vại nước, gáo múc bằng ống tre để khách rửa tay chân trước khi lên nhà sàn. Cách nhà không xa nơi có nguồn nước chảy qua bao giờ cũng có cối gạo nước và guồng nước chuyển động luân hồi theo nhịp sống của bản Mường. Cũng vì thế nên người Mường luôn tự hào về văn hóa cư trú nhà sàn của mình qua câu tục ngữ "Cơm đồ nhà gác, nước vác lợn thui, ngày lui tháng tới".
Văn hóa tín ngưỡng
Người Mường có phong tục hiếu khách đặc biệt "Trâu ra đồng ăn cỏ, người lên nhà ăn cơm". Gia đình, vợ chồng không cãi chửi nhau, cha mẹ không bao giờ đánh mắng con cái. Chính vì thế mà ngôi nhà Mường luôn luôn là tổ ấm bình yên, nơi giao đãi tiếp khách nồng hậu, có thể trở thành điểm sinh hoạt cộng đồng hấp dẫn, quyến rũ mỗi khi có việc nhà, việc bản. Lúc đó tiếng cồng chiêng lại ngân nga trầm bổng, làn điệu dân ca Mường hát lời thương lại tha thiết lắng sâu và rượu cần lại có dịp tỏa hương vấn vít.
Mỗi độ đón mùa xuân về đan xen với mái nhà sàn Mường là những vườn hoa mơ nở rộ trắng muốt tinh khiết, phảng phất hương thơm của núi rừng. Dịp đó, nhà nào cũng dựng cây nêu trước nhà theo tín ngưỡng dân tộc để cho ông bà tổ tiên biết lối về. Cây nêu được chọn là cây tre đẹp mã, dáng thẳng cao vút đến ngọn để chừa lại tán lá. Sau lễ khai hạ, Rằm tháng giêng mới hạ cây nêu.
Vào đêm 30 Tết, trước thời khắc giao thừa, các cô gái Mường trẻ trung xinh đẹp thường vác ống bương lên tận mó nước ngọn suối đầu nguồn lấy nước về. Đón giao thừa, mọi ống bương đựng nước trong nhà sàn đều đầy ăm ắp. Nước đó được rót ra bát cúng tổ tiên cùng với mâm ngũ quả và bánh chưng dạng ống, giống như bánh tét ở các tỉnh miền Nam.
Cho đến bây giờ đồng bào Mường vẫn coi rùa là con vật thiêng trong tín ngưỡng dân gian bản địa của mình. Đồng bào không ăn thịt rùa và luôn tự hào về ngôi nhà sàn là công trình phỏng sinh học tuyệt vời của dân tộc mình.
Du lịch, GO! - Theo Làng Việt, internet
Độc đáo lễ hội tắm nước đền Và
Là một trong số không nhiều lễ hội có tục lệ rước nước tắm cho thần và tôn vinh mối tình đẹp trong truyền thuyết, qua nhiều thăng trầm, hội đền Và vẫn bảo tồn được nét độc đáo, sức hấp dẫn vốn có và được đông đảo du khách thập phương tìm về mỗi dịp lễ hội.
Hội được tổ chức trong không gian chính là đền Và (tại thôn Vân Gia, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, Hà Nội) – nơi thờ Đệ nhất Phúc thần Tản Viên - vị tổ của bách thần, còn gọi là Nam thiên Thần tổ, vị thần trong tứ bất tử của truyền thuyết nước Nam. Tính độc đáo của lễ hội còn được nhân lên bởi phạm vi diễn ra lễ hội rộng suốt từ Sơn Tây (Hà Nội) tới huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc).
Theo truyền thuyết vào ngày 14 tháng giêng (không rõ năm nào), Sơn Tinh đến vùng ven sông, ngài dừng chân nghỉ ngơi, vừa lúc đó có một cô gái gánh sọt qua, ngài ngỏ ý nhờ cô gánh nước mát lấy từ giữa dòng sông để tắm.
Cô gái ôn tồn thưa rằng: “Gánh nước cho tướng quân tắm, tôi đâu có ngại, nhưng sọt này làm sao mà đựng nước được”. Ngài liền bảo: “Cứ dùng sọt mà gánh”. Cô đã làm theo, lạ thay đôi sọt lại đựng được nước. Ngày hôm sau, cô gái ấy đã ra chỗ ngài tắm, lẳng lặng hoá thân ở đấy. Mấy hôm sau, mối đùn phủ kín thi hài cô.
Để nhớ ơn cô gái gánh nước cho mình tắm, ngài đã báo mộng cho dân làng rước thi hài cô về mai táng và xây đền thờ. Đền ấy được gọi là đền Dội, toạ lạc bên bờ sông Hồng, thuộc xã Ngư Bình, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay.
Từ đó cứ 3 năm một lần vào các ngày từ 14 - 17 tháng giêng, nhân dân lại tổ chức lễ hội lớn gọi là chính lễ. Trước khi lễ thánh, dân làng tổ chức rước bài vị thánh qua sông Hồng đến đền Dội để làm lễ tắm ngai. Nước được lấy ở giữa sông Hồng vào buổi sớm ngày rằm tháng giêng. Dân làng chèo thuyền có đặt chóc nước ra giữa sông lễ tế rồi cầm cây gậy đầu có một vòng tròn bằng thanh tre, để vòng tròn ấy ra mặt nước để ngăn không cho bụi bặm pha tạp trên mặt nước lẫn vào và múc nước trong vòng tre đó cho vào choé, rước về đền Và làm lễ bao sái các vị thần.
Để tổ chức cuộc rước lớn trong những năm chính lễ có 8 làng tham gia, bao gồm: Vân Gia, Cầu Trì, Mai Trai, Nghĩa Phủ, Đạm Trai (xã Trung Hưng, Sơn Tây, Hà Nội); Phú Nhi (phường Phú Thịnh); Phù Sa (xã Viên Sơn); thôn Di Bình, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc). Chiều 14 tháng giêng, dân các thôn rước kiệu của thôn mình về để dàn ra trước sân nhà tiền tế của đền Và. Khoảng 1 đến 2 giờ ngày 15, bắt đầu tổ chức lễ. Đến khoảng 3 giờ thì phụng nghênh long ngai ra ngoài kiệu chính.
Khi rước, kiệu chính đi trước, đến kiệu văn, sau đó là kiệu long mũ của tam vị, tiếp đó là kiệu hương hoa, oản quả của các thôn. Đám rước sẽ đi qua cầu Cộng vào thành phố Sơn Tây, tới cổng thành cổ, các cỗ kiệu quay một vòng mới rước qua các làng Phù Sa - Phú Nhi và ra phía bờ sông Hồng. Các cỗ kiệu lần lượt xuống thuyền qua sông. Đám rước sang tới bờ tả sông Hồng thì từng cỗ kiệu được đặt yên vị trước ban thờ tam vị Tản Viên để cùng vào đền. Mọi người vui chơi ở bãi sông cho tới chiều hôm khi thấy lá cờ tứ linh gặp gió thổi phất đuôi cờ về phía nam, thì các cụ tế triệu hồi đưa kiệu đồ tế, đồ rước trở lại đền Và yên vị trước sân tiền tế.
Ngoài phần lễ trang nghiêm còn có phần hội với các trò chơi dân gian như đánh cờ người, đánh vật, chơi gà chọi, cùng các tiết mục văn nghệ với các bài dân ca mang đậm nét đặc trưng văn hoá xứ Đoài...
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Lộc, Laodong
Hội được tổ chức trong không gian chính là đền Và (tại thôn Vân Gia, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, Hà Nội) – nơi thờ Đệ nhất Phúc thần Tản Viên - vị tổ của bách thần, còn gọi là Nam thiên Thần tổ, vị thần trong tứ bất tử của truyền thuyết nước Nam. Tính độc đáo của lễ hội còn được nhân lên bởi phạm vi diễn ra lễ hội rộng suốt từ Sơn Tây (Hà Nội) tới huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc).
Theo truyền thuyết vào ngày 14 tháng giêng (không rõ năm nào), Sơn Tinh đến vùng ven sông, ngài dừng chân nghỉ ngơi, vừa lúc đó có một cô gái gánh sọt qua, ngài ngỏ ý nhờ cô gánh nước mát lấy từ giữa dòng sông để tắm.
Cô gái ôn tồn thưa rằng: “Gánh nước cho tướng quân tắm, tôi đâu có ngại, nhưng sọt này làm sao mà đựng nước được”. Ngài liền bảo: “Cứ dùng sọt mà gánh”. Cô đã làm theo, lạ thay đôi sọt lại đựng được nước. Ngày hôm sau, cô gái ấy đã ra chỗ ngài tắm, lẳng lặng hoá thân ở đấy. Mấy hôm sau, mối đùn phủ kín thi hài cô.
Để nhớ ơn cô gái gánh nước cho mình tắm, ngài đã báo mộng cho dân làng rước thi hài cô về mai táng và xây đền thờ. Đền ấy được gọi là đền Dội, toạ lạc bên bờ sông Hồng, thuộc xã Ngư Bình, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay.
Từ đó cứ 3 năm một lần vào các ngày từ 14 - 17 tháng giêng, nhân dân lại tổ chức lễ hội lớn gọi là chính lễ. Trước khi lễ thánh, dân làng tổ chức rước bài vị thánh qua sông Hồng đến đền Dội để làm lễ tắm ngai. Nước được lấy ở giữa sông Hồng vào buổi sớm ngày rằm tháng giêng. Dân làng chèo thuyền có đặt chóc nước ra giữa sông lễ tế rồi cầm cây gậy đầu có một vòng tròn bằng thanh tre, để vòng tròn ấy ra mặt nước để ngăn không cho bụi bặm pha tạp trên mặt nước lẫn vào và múc nước trong vòng tre đó cho vào choé, rước về đền Và làm lễ bao sái các vị thần.
Để tổ chức cuộc rước lớn trong những năm chính lễ có 8 làng tham gia, bao gồm: Vân Gia, Cầu Trì, Mai Trai, Nghĩa Phủ, Đạm Trai (xã Trung Hưng, Sơn Tây, Hà Nội); Phú Nhi (phường Phú Thịnh); Phù Sa (xã Viên Sơn); thôn Di Bình, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc). Chiều 14 tháng giêng, dân các thôn rước kiệu của thôn mình về để dàn ra trước sân nhà tiền tế của đền Và. Khoảng 1 đến 2 giờ ngày 15, bắt đầu tổ chức lễ. Đến khoảng 3 giờ thì phụng nghênh long ngai ra ngoài kiệu chính.
Khi rước, kiệu chính đi trước, đến kiệu văn, sau đó là kiệu long mũ của tam vị, tiếp đó là kiệu hương hoa, oản quả của các thôn. Đám rước sẽ đi qua cầu Cộng vào thành phố Sơn Tây, tới cổng thành cổ, các cỗ kiệu quay một vòng mới rước qua các làng Phù Sa - Phú Nhi và ra phía bờ sông Hồng. Các cỗ kiệu lần lượt xuống thuyền qua sông. Đám rước sang tới bờ tả sông Hồng thì từng cỗ kiệu được đặt yên vị trước ban thờ tam vị Tản Viên để cùng vào đền. Mọi người vui chơi ở bãi sông cho tới chiều hôm khi thấy lá cờ tứ linh gặp gió thổi phất đuôi cờ về phía nam, thì các cụ tế triệu hồi đưa kiệu đồ tế, đồ rước trở lại đền Và yên vị trước sân tiền tế.
Ngoài phần lễ trang nghiêm còn có phần hội với các trò chơi dân gian như đánh cờ người, đánh vật, chơi gà chọi, cùng các tiết mục văn nghệ với các bài dân ca mang đậm nét đặc trưng văn hoá xứ Đoài...
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Lộc, Laodong
Trò chơi cổ truyền trong “tháng ăn chơi”
Các trò vui chơi xuân của nhân dân ta xưa được sử gọi là “trăm trò chơi” (bách hí). Ngày nay, qua nhiều thăng trầm của thời gian, nhiều trò chơi đã không còn xuất hiện. Tuy nhiên, một số trò chơi dân gian đã trường tồn trong lễ hội truyền thống đến tận ngày nay.
< Sen tại lễ hội hoa xuân.
Dân gian vẫn có câu:
Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai đình đám, tháng ba hội làng.
Hoà cùng không khí thiêng liêng trong lễ đầu xuân, phần hội với những trò chơi dân gian đặc sắc cũng góp phần tạo nên sức sống cho lễ hội.
1. Đánh đu
Đánh đu (gồm nhiều loại như đu tiên, đu vân xa v.v...) là một trò chơi phổ thông được hầu hết trai gái ưa chuộng. Bởi vậy mới có câu ca dao: “Tháng giêng giai tiết ở đầu/ Bao nhiêu mỹ nữ đá cầu, đánh đu”. Theo tư liệu và hình ảnh cũ, chúng ta có thể mô tả như sau: Người ta trồng hai cột gỗ cao song song giữa một bãi đất trống và ở giữa treo một bàn nhún (để đủ 2 người nam - nữ cùng đứng). Có làng phải trồng đến hai, ba cây đu trong dịp tết để đáp ứng yêu cầu vui chơi giải trí của đôi trai gái. Các nam thanh nữ tú kéo tới, rủ nhau lên đánh đu, thường thường mỗi cặp đu là một nam một nữ mới thêm phần thú vị, như bài thơ của Hồ Xuân Hương: “Bốn cột khen ai khéo khéo trồng / Người thì lên đánh kẻ ngồi trông / Trai đu gối hạc khom khom cật / Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng”.
Đánh đu xuất hiện rất nhiều trong hội Gióng, hội Cổ Loa, hội Lim...
2. Kéo co
Trò chơi luyện sức và thể hiện ý chí hiệp đồng tập thể. Dễ chơi, thường được tổ chức trong các hội làng với nhiều hình thức. Tiêu biểu hơn cả trong vùng Hà Nội là hội kéo co làng Cự (tức Cự Linh, nay là thôn Ngọc Trì, xã Thạch Bàn, huyện Gia Lâm). Dây kéo có thể dùng dây song, dây chão, thậm chí dùng cả cây tre để kéo. Người chơi chia làm hai phe đều nhau, đối mặt theo một hàng dọc, theo lệnh hiệu cờ cùng kéo về bên mình. Chính giữa dây kéo được buộc đánh dấu bằng túm vải đỏ, đặt trên vạch vôi phân ranh giới giữa hai phe. Nếu bên nào lôi được túm vải đỏ dịch sang địa phận của mình là thắng. Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng liền ba keo là bên ấy được.
3. Nặn tò he
Làng Xuân La, huyện Phú Xuyên (Hà Nội) là nơi có truyền thống nặn tò he. Ban đầu, khi rỗi rãi, một số người đã nặn những hình con cò, con chim, con gà... bằng đất, nung qua lửa rồi cắm vào đó chiếc kèn và bán cho các cháu nhỏ làm đồ chơi. Khi cuộc sống được no đủ, họ đã chuyển từ nặn bằng đất sang nặn bằng bột gạo. Hình dáng của những thứ được nặn cũng đa dạng hơn. Từ những con vật cụ thể như voi, ngựa, chim, gà, lợn... đến những con vật chỉ có trong trí tưởng tượng của con người như rồng, phượng, hạc... những nhân vật cổ tích, thần thoại như Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng, Bồ Tát nghìn tay...
Đặc biệt mỗi dịp trung thu tới, dưới ánh trăng vằng vặc, sản phẩm dân dã ấy đã làm rạng niềm vui trên những khuôn mặt trẻ thơ nông thôn khi phá cỗ. Trẻ con rất thích tò he. Bởi tò he có những hình dáng, màu sắc bắt mắt và khi chơi chán chúng có thể ăn được.
4. Đấu vật
Đấu vật là một trò chơi dân gian mang tính cổ truyền ở hầu hết các tỉnh miền Bắc. Các làng nổi tiếng với môn vật là: Chung Màu (Bắc Ninh), Vị Thanh (Vĩnh Phúc). Mai Động (Hà Nội), Phong Châu, Đoan Hùng (Phú Thọ)...
Đô vật khi dự vật mình trần trùng trục và chỉ đóng khố. Trước khi vật, hai đối thủ cùng nhau lên đài, múa tay co chân, đi lại rình miếng lẫn nhau. Muốn thắng phải vật cho đối phương “ngã ngựa trắng bụng” hay “lấm lưng trắng bụng” hoặc nhấc bổng được đối phương lên.
Môn vật tại VN thường tổ chức dưới dạng các hội vật vào tháng giêng. Tiêu biểu như hội Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), hội Lim (Bắc Ninh), hội Gióng (Sóc Sơn, Hà Nội)... Hội vật có ba giải chính và nhiều giải phụ. Những giải chính hằng năm đều có người giữ với điều kiện người đó phải thắng trong suốt thời gian mở hội. Người phá giải là người vật thắng người giữ giải năm trước, tuy nhiên phải vật ngã thêm một số đô vật khác mới thắng giải.
5. Nhảy dây
Hai tay người chơi cầm 2 đầu dây, vừa quay hai tay cầm dây vừa nhảy thẳng chân, cho dây đi qua đầu rồi đi qua chân.
Ngoài ra, có thể chơi nhảy cặp đôi. Hai người chơi quay mặt vào nhau, một người cầm dây như cách chơi có 1 người và quay dây sao cho dây qua đầu và chân cả hai người. Trong khi nhảy, đồng đội đứng bên ngoài có thể vào nhảy cùng. Khi nhảy, người chơi phối hợp nhịp nhàng vừa nhảy vừa hát những bài đồng dao ngắn, đơn giản. Nhảy dây xuất hiện phổ biến trong các lễ hội.
6. Cờ người
Cờ người là tên gọi cuộc chơi cờ tướng, gồm 32 quân, mỗi phe 16 quân (mỗi phe có một tướng, tướng nam gọi là tướng ông, trang phục đen hoặc xanh; tướng nữ còn gọi là tướng bà, trang phục đỏ). Chơi cờ người cũng vẫn là luật lệ của cờ tướng. Nhưng quân cờ là người thật và bàn cờ là sân đất rộng, đủ đường đi cho 32 người. Trò chơi này xuất hiện khá phổ biến trong các hội làng (với quy mô lớn), tiêu biểu như: Hội Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội); hội Gò Đống Đa (Đống Đa, Hà Nội); hội Chùa Vua (phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng)...
Ngoài ra, còn nhiều trò chơi dân gian khác như bập bênh, thi nấu cơm niêu, bịt mắt bắt dê, nhảy sạp, xem chọi gà, vồ gà, thi chim, ô ăn quan, thi lợn chạy, chợ quê… nhằm tạo không khí vui tươi phấn khởi, đồng thời tạo ra sân chơi lành mạnh cho người dân trong dịp tết Nhâm Thìn.
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Lộc, Laodong + internet
< Sen tại lễ hội hoa xuân.
Dân gian vẫn có câu:
Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai đình đám, tháng ba hội làng.
Hoà cùng không khí thiêng liêng trong lễ đầu xuân, phần hội với những trò chơi dân gian đặc sắc cũng góp phần tạo nên sức sống cho lễ hội.
1. Đánh đu
Đánh đu (gồm nhiều loại như đu tiên, đu vân xa v.v...) là một trò chơi phổ thông được hầu hết trai gái ưa chuộng. Bởi vậy mới có câu ca dao: “Tháng giêng giai tiết ở đầu/ Bao nhiêu mỹ nữ đá cầu, đánh đu”. Theo tư liệu và hình ảnh cũ, chúng ta có thể mô tả như sau: Người ta trồng hai cột gỗ cao song song giữa một bãi đất trống và ở giữa treo một bàn nhún (để đủ 2 người nam - nữ cùng đứng). Có làng phải trồng đến hai, ba cây đu trong dịp tết để đáp ứng yêu cầu vui chơi giải trí của đôi trai gái. Các nam thanh nữ tú kéo tới, rủ nhau lên đánh đu, thường thường mỗi cặp đu là một nam một nữ mới thêm phần thú vị, như bài thơ của Hồ Xuân Hương: “Bốn cột khen ai khéo khéo trồng / Người thì lên đánh kẻ ngồi trông / Trai đu gối hạc khom khom cật / Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng”.
Đánh đu xuất hiện rất nhiều trong hội Gióng, hội Cổ Loa, hội Lim...
2. Kéo co
Trò chơi luyện sức và thể hiện ý chí hiệp đồng tập thể. Dễ chơi, thường được tổ chức trong các hội làng với nhiều hình thức. Tiêu biểu hơn cả trong vùng Hà Nội là hội kéo co làng Cự (tức Cự Linh, nay là thôn Ngọc Trì, xã Thạch Bàn, huyện Gia Lâm). Dây kéo có thể dùng dây song, dây chão, thậm chí dùng cả cây tre để kéo. Người chơi chia làm hai phe đều nhau, đối mặt theo một hàng dọc, theo lệnh hiệu cờ cùng kéo về bên mình. Chính giữa dây kéo được buộc đánh dấu bằng túm vải đỏ, đặt trên vạch vôi phân ranh giới giữa hai phe. Nếu bên nào lôi được túm vải đỏ dịch sang địa phận của mình là thắng. Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng liền ba keo là bên ấy được.
3. Nặn tò he
Làng Xuân La, huyện Phú Xuyên (Hà Nội) là nơi có truyền thống nặn tò he. Ban đầu, khi rỗi rãi, một số người đã nặn những hình con cò, con chim, con gà... bằng đất, nung qua lửa rồi cắm vào đó chiếc kèn và bán cho các cháu nhỏ làm đồ chơi. Khi cuộc sống được no đủ, họ đã chuyển từ nặn bằng đất sang nặn bằng bột gạo. Hình dáng của những thứ được nặn cũng đa dạng hơn. Từ những con vật cụ thể như voi, ngựa, chim, gà, lợn... đến những con vật chỉ có trong trí tưởng tượng của con người như rồng, phượng, hạc... những nhân vật cổ tích, thần thoại như Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng, Bồ Tát nghìn tay...
Đặc biệt mỗi dịp trung thu tới, dưới ánh trăng vằng vặc, sản phẩm dân dã ấy đã làm rạng niềm vui trên những khuôn mặt trẻ thơ nông thôn khi phá cỗ. Trẻ con rất thích tò he. Bởi tò he có những hình dáng, màu sắc bắt mắt và khi chơi chán chúng có thể ăn được.
4. Đấu vật
Đấu vật là một trò chơi dân gian mang tính cổ truyền ở hầu hết các tỉnh miền Bắc. Các làng nổi tiếng với môn vật là: Chung Màu (Bắc Ninh), Vị Thanh (Vĩnh Phúc). Mai Động (Hà Nội), Phong Châu, Đoan Hùng (Phú Thọ)...
Đô vật khi dự vật mình trần trùng trục và chỉ đóng khố. Trước khi vật, hai đối thủ cùng nhau lên đài, múa tay co chân, đi lại rình miếng lẫn nhau. Muốn thắng phải vật cho đối phương “ngã ngựa trắng bụng” hay “lấm lưng trắng bụng” hoặc nhấc bổng được đối phương lên.
Môn vật tại VN thường tổ chức dưới dạng các hội vật vào tháng giêng. Tiêu biểu như hội Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), hội Lim (Bắc Ninh), hội Gióng (Sóc Sơn, Hà Nội)... Hội vật có ba giải chính và nhiều giải phụ. Những giải chính hằng năm đều có người giữ với điều kiện người đó phải thắng trong suốt thời gian mở hội. Người phá giải là người vật thắng người giữ giải năm trước, tuy nhiên phải vật ngã thêm một số đô vật khác mới thắng giải.
5. Nhảy dây
Hai tay người chơi cầm 2 đầu dây, vừa quay hai tay cầm dây vừa nhảy thẳng chân, cho dây đi qua đầu rồi đi qua chân.
Ngoài ra, có thể chơi nhảy cặp đôi. Hai người chơi quay mặt vào nhau, một người cầm dây như cách chơi có 1 người và quay dây sao cho dây qua đầu và chân cả hai người. Trong khi nhảy, đồng đội đứng bên ngoài có thể vào nhảy cùng. Khi nhảy, người chơi phối hợp nhịp nhàng vừa nhảy vừa hát những bài đồng dao ngắn, đơn giản. Nhảy dây xuất hiện phổ biến trong các lễ hội.
6. Cờ người
Cờ người là tên gọi cuộc chơi cờ tướng, gồm 32 quân, mỗi phe 16 quân (mỗi phe có một tướng, tướng nam gọi là tướng ông, trang phục đen hoặc xanh; tướng nữ còn gọi là tướng bà, trang phục đỏ). Chơi cờ người cũng vẫn là luật lệ của cờ tướng. Nhưng quân cờ là người thật và bàn cờ là sân đất rộng, đủ đường đi cho 32 người. Trò chơi này xuất hiện khá phổ biến trong các hội làng (với quy mô lớn), tiêu biểu như: Hội Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội); hội Gò Đống Đa (Đống Đa, Hà Nội); hội Chùa Vua (phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng)...
Ngoài ra, còn nhiều trò chơi dân gian khác như bập bênh, thi nấu cơm niêu, bịt mắt bắt dê, nhảy sạp, xem chọi gà, vồ gà, thi chim, ô ăn quan, thi lợn chạy, chợ quê… nhằm tạo không khí vui tươi phấn khởi, đồng thời tạo ra sân chơi lành mạnh cho người dân trong dịp tết Nhâm Thìn.
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Lộc, Laodong + internet
Những bờ biển đá độc đáo của Việt Nam
Không chỉ là cát trắng, cát vàng từ phía trong đất liền chạy dài ra biển trong những con sóng vỗ bờ đơn thuần... mà những bãi này được điểm tô thêm những khối đá đủ mọi hình thù từ to đến nhỏ.
< Bãi biển Hồ Cốc.
Tại Việt Nam có những bãi biển ru hồn du khách với vẻ đẹp dịu dàng, nên thơ thì các bãi biển như Cổ Thạch, Đá Nhảy, ghềnh đá Bình Châu… lại có nét duyên kỳ lạ nhờ những tảng đá trên bờ lẫn dưới mặt sóng, quanh năm tung bọt trắng xóa ì ầm.
Biển Hồ Cốc
Biển Hồ Cốc nằm trên địa bàn xã Bưng Riềng, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách thành phố Hồ Chí Minh 175km, khoảng 3 giờ đồng hồ theo đường bộ, du khách sẽ đến Hồ Cốc – một điểm du lịch nghỉ dưỡng, dã ngoại.
Chỉ rải rác vài tảng đá nhưng biển Hồ Cốc cũng đủ gây ấn tượng mạnh với du khách. Ngoài công dụng làm background cho những bức ảnh của bạn, việc leo lên tảng đá nghỉ chân sau khi dạo bộ trên bãi biển hay tỏ tình với người ấy bằng cách hét vang là ý tưởng không tồi.
Ghềnh đá Bình Châu
Ngay khi đặt chân đến đây, bạn sẽ phát hiện ra rằng khung cảnh nơi đây đã từng khiến nhiều người xuýt xoa thèm muốn khi thuởng thức những clip ca nhạc đẹp lung linh hay bối cảnh cho những câu chuyện tình lãng mạn trong phim truyền hình.
Ngoài cái thú của việc thả bước dạo bộ, cái hay của hành trình chinh phục những mỏm đá lớn, bạn sẽ thích thú với cách tắm “không đụng hàng” của thanh niên địa phương.
Đó là thế tắm đứng giang tay trên những tảng đá, chờ sóng đập mạnh vào người để cảm nhận sức nước, cảm nhận cái bao la của không gian và cái bé nhỏ của con người.
Người địa phương gọi nơi này là biển "Vạn Trâu" do hàng hàng lớp lớp những đá và đá, trông như hàng trăm chú trâu đồ sộ, đen trũi... đang vùng vẫy tắm dưới bờ sóng. Cạnh đó cũng có những khoảng trống, bãi lài để du khách có thể vùng vẫy thoải mái.
Bãi đá Cổ Thạch
Bãi biển Cổ Thạch thuộc địa phận xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết khoảng 90km.
Nếu xét về những bãi biển có đá, Cổ Thạch mang đến ấn tượng mạnh hơn cả, nhờ những tảng đá nhiều hình dạng và bãi đá gồm những viên sỏi nhỏ nhiều màu sắc.
Vì thế, khi đến đây, du khách cũng có hai thú vui khác nhau là khám phá các tảng đá lớn và tìm chọn những viên đá nhỏ nhiều màu, hình dáng độc, lạ về tặng bạn bè.
Những khối đá với muôn hình vạn trạng này còn gắn liền với những huyền thoại ly kỳ. Những khối đá nhấp nhô giống như đàn thủy quái khổng lồ đang ngoi lên từ lòng biển, nhiều khối đá vươn cao ra phía biển khơi xa như đón những con sóng xô bờ.
Sau khi thoả thích vùng vẫy dưới biển, đừng quên khám phá chùa Hang, tiểu sa mạc, đình thờ Nam Hải, dong thuyền ra Cù Lao Chàm hay đơn giản là thuê một ngư dân với chiếc thuyền thúng để khám phá sự chông chênh giữa những con sóng.
Cà Ná
Hành trình trên quốc lộ 1A, khi đến đoạn giáp ranh Bình Thuận- Ninh Thuận, biển Cà Nà hiện ra bát ngát, bao la được mệnh danh là nàng công chúa ngủ quên. Biển xanh, cát trắng, ghềnh đá, núi non... cộng với các tuyến đường giao thông uốn luợn qua các eo biển, tạo cho Cà Ná một cảnh quan đầy ngoạn mục với khí hậu nắng ấm quanh năm.Cà Ná, một cái tên ấn tượng trên bản đồ du lịch Việt Nam và thế giới, nơi có núi, có rừng, có biển, và cả một nền văn hóa Chăm độc đáo.
Vẻ đẹp thiên nhiên kết hợp với nét đẹp văn hoá đã tạo nên một thiên đường du lịch, thu hút nhiều du khách.
Nơi đây còn ru lòng người với vẻ đẹp lạ của những tảng đá lớn nhỏ dọc bờ biển. Vẻ gai góc ấy được hình dung như một góc cá tính mạnh của người con gái đẹp. Bãi biển Cà Ná với những triền cát trắng tinh mềm mại uốn lượn nhưng quyến rũ hơn với các tảng đá granite lớn nhỏ trải dài ra biển. Sau mỗi đợt sóng, những tảng đá ấy nhấp nhô tựa như đàn hải cẩu đang đùa giỡn trên mặt biển.
Mỏm đá chim
Nghe tên như thế, nhiều người thường sẽ nghĩ rằng các tảng đá tại đây sẽ rất lớn hoặc có hình như một loại chim nào đó sau đó đều ngạc nhiên bởi Mỏm Đá Chim chỉ có đơn giản với hai tảng đá tầm trung gần bờ. Theo người dân địa phương, nơi đây có tên gọi như thế vì ngày xưa, cứ mỗi chiều về, hàng trăm con chim kéo về nghỉ qua đêm.
Tiếng hát, tiếng lao xao vỗ cánh của chúng tạo nên bản nhạc thiên nhiên làm mê đắm lòng người. Nhưng ngày nay, không biết nguyên nhân gì mà chim không về nữa.
Tuy không còn hình ảnh mỗi chiều đến hàng trăm loại chim kéo nhau về ngủ, song Mỏm Đá Chim vẫn cuốn hút du khách với vẻ đẹp lý tưởng của một bãi biển miền Trung cùng nét riêng của những con sóng mạnh như muốn cuốn trôi tất cả ra biển.
Bãi Cóc
Toạ lạc trong khu vực vịnh Vĩnh Hy, bãi Cóc tuyệt đẹp với nước trong, những tảng đá lớn nhỏ rải rác và cát vàng. Có điều du khách ít biết đến nó như một bãi biển đẹp để vùng vẫy trong làn nước mát mà là nơi bán hải sản tươi ngon của vịnh Vĩnh Hy. Ngoài nguyên nhân thời gian các tàu dừng lại để khách khám phá nơi đây quá ít - chỉ kịp thưởng thức bữa tiệc hải sản tươi ngon, thì ánh nắng như thiêu đốt mọi thứ của nơi này khiến rất ít du khách can đảm nhảy xuống tắm.
Bãi Đá Nhảy
Gọi là bải Đá Nhảy bởi nhìn gần hay xa thì dưới những đợt sóng, những tảng đá nhiều hình dạng nằm rải rác trên bờ biển tựa như đang nhấp nhô trong làn nước khiến bức tranh phong cảnh biển càng phong thêm phong phú và sôi động. Đến đây, ngoài tắm biển, chinh phục các tảng đá, du khách còn có cơ hội thưởng thức những giọt nước trong veo, mát lạnh của giếng Cóc, một giếng nước ẩn mình dưới một tảng đá lớn ngay cạnh bờ biển nhưng cho nước ngọt quanh năm.
Biển ở đảo Lý Sơn
Không có những tảng đá lớn như bãi Đá Nhảy, cũng không có những viên sỏi nhiều màu sắc như Cổ Thạch mà chỉ là những mảnh vôi của san hô vụn, thế nhưng những viên đá trắng trải dài từ bờ ra biển, nối cả những viên sỏi nhỏ dưới đáy của các bãi biển tại đảo Bé (thuộc huyện đảo Lý Sơn) cũng khiến du khách không thể rời mắt hay không trước khi rời đi, để lại lời hứa sẽ quay lại lần nữa.
Bãi Hoàng Hậu
Nếu bãi đá 7 màu chỉ là những viên sỏi nhiều màu sắc, nhiều hình dáng đã mang đến cho Cổ Thạch vẻ đẹp khó cưỡng, thì những viên đá khổng lồ trơn mịn nhiều kích thước tại bãi biển Hoàng Hậu lại càng nổi bật. Những tảng đá này cũng là lý do chính khiến bãi biển này vừa mang vẻ mộc mạc vừa ẩn giấu nét tinh tế, sang trọng.
Ngoài ra, khi ngâm mình trong làn nuớc mát tại đây, bạn sẽ được trải nghiệm bãi biển của vua chùa - ngày truớc mỗi lần có dịp đến đây, Nam Phương Hoàng Hậu đều chọn bãi biển này.
Du lịch, GO! tổng hợp từ Infonet và nhiều nguồn khác
< Bãi biển Hồ Cốc.
Tại Việt Nam có những bãi biển ru hồn du khách với vẻ đẹp dịu dàng, nên thơ thì các bãi biển như Cổ Thạch, Đá Nhảy, ghềnh đá Bình Châu… lại có nét duyên kỳ lạ nhờ những tảng đá trên bờ lẫn dưới mặt sóng, quanh năm tung bọt trắng xóa ì ầm.
Biển Hồ Cốc
Biển Hồ Cốc nằm trên địa bàn xã Bưng Riềng, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách thành phố Hồ Chí Minh 175km, khoảng 3 giờ đồng hồ theo đường bộ, du khách sẽ đến Hồ Cốc – một điểm du lịch nghỉ dưỡng, dã ngoại.
Chỉ rải rác vài tảng đá nhưng biển Hồ Cốc cũng đủ gây ấn tượng mạnh với du khách. Ngoài công dụng làm background cho những bức ảnh của bạn, việc leo lên tảng đá nghỉ chân sau khi dạo bộ trên bãi biển hay tỏ tình với người ấy bằng cách hét vang là ý tưởng không tồi.
Ghềnh đá Bình Châu
Ngay khi đặt chân đến đây, bạn sẽ phát hiện ra rằng khung cảnh nơi đây đã từng khiến nhiều người xuýt xoa thèm muốn khi thuởng thức những clip ca nhạc đẹp lung linh hay bối cảnh cho những câu chuyện tình lãng mạn trong phim truyền hình.
Ngoài cái thú của việc thả bước dạo bộ, cái hay của hành trình chinh phục những mỏm đá lớn, bạn sẽ thích thú với cách tắm “không đụng hàng” của thanh niên địa phương.
Đó là thế tắm đứng giang tay trên những tảng đá, chờ sóng đập mạnh vào người để cảm nhận sức nước, cảm nhận cái bao la của không gian và cái bé nhỏ của con người.
Người địa phương gọi nơi này là biển "Vạn Trâu" do hàng hàng lớp lớp những đá và đá, trông như hàng trăm chú trâu đồ sộ, đen trũi... đang vùng vẫy tắm dưới bờ sóng. Cạnh đó cũng có những khoảng trống, bãi lài để du khách có thể vùng vẫy thoải mái.
Bãi đá Cổ Thạch
Bãi biển Cổ Thạch thuộc địa phận xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết khoảng 90km.
Nếu xét về những bãi biển có đá, Cổ Thạch mang đến ấn tượng mạnh hơn cả, nhờ những tảng đá nhiều hình dạng và bãi đá gồm những viên sỏi nhỏ nhiều màu sắc.
Vì thế, khi đến đây, du khách cũng có hai thú vui khác nhau là khám phá các tảng đá lớn và tìm chọn những viên đá nhỏ nhiều màu, hình dáng độc, lạ về tặng bạn bè.
Những khối đá với muôn hình vạn trạng này còn gắn liền với những huyền thoại ly kỳ. Những khối đá nhấp nhô giống như đàn thủy quái khổng lồ đang ngoi lên từ lòng biển, nhiều khối đá vươn cao ra phía biển khơi xa như đón những con sóng xô bờ.
Sau khi thoả thích vùng vẫy dưới biển, đừng quên khám phá chùa Hang, tiểu sa mạc, đình thờ Nam Hải, dong thuyền ra Cù Lao Chàm hay đơn giản là thuê một ngư dân với chiếc thuyền thúng để khám phá sự chông chênh giữa những con sóng.
Cà Ná
Hành trình trên quốc lộ 1A, khi đến đoạn giáp ranh Bình Thuận- Ninh Thuận, biển Cà Nà hiện ra bát ngát, bao la được mệnh danh là nàng công chúa ngủ quên. Biển xanh, cát trắng, ghềnh đá, núi non... cộng với các tuyến đường giao thông uốn luợn qua các eo biển, tạo cho Cà Ná một cảnh quan đầy ngoạn mục với khí hậu nắng ấm quanh năm.Cà Ná, một cái tên ấn tượng trên bản đồ du lịch Việt Nam và thế giới, nơi có núi, có rừng, có biển, và cả một nền văn hóa Chăm độc đáo.
Vẻ đẹp thiên nhiên kết hợp với nét đẹp văn hoá đã tạo nên một thiên đường du lịch, thu hút nhiều du khách.
Nơi đây còn ru lòng người với vẻ đẹp lạ của những tảng đá lớn nhỏ dọc bờ biển. Vẻ gai góc ấy được hình dung như một góc cá tính mạnh của người con gái đẹp. Bãi biển Cà Ná với những triền cát trắng tinh mềm mại uốn lượn nhưng quyến rũ hơn với các tảng đá granite lớn nhỏ trải dài ra biển. Sau mỗi đợt sóng, những tảng đá ấy nhấp nhô tựa như đàn hải cẩu đang đùa giỡn trên mặt biển.
Mỏm đá chim
Nghe tên như thế, nhiều người thường sẽ nghĩ rằng các tảng đá tại đây sẽ rất lớn hoặc có hình như một loại chim nào đó sau đó đều ngạc nhiên bởi Mỏm Đá Chim chỉ có đơn giản với hai tảng đá tầm trung gần bờ. Theo người dân địa phương, nơi đây có tên gọi như thế vì ngày xưa, cứ mỗi chiều về, hàng trăm con chim kéo về nghỉ qua đêm.
Tiếng hát, tiếng lao xao vỗ cánh của chúng tạo nên bản nhạc thiên nhiên làm mê đắm lòng người. Nhưng ngày nay, không biết nguyên nhân gì mà chim không về nữa.
Tuy không còn hình ảnh mỗi chiều đến hàng trăm loại chim kéo nhau về ngủ, song Mỏm Đá Chim vẫn cuốn hút du khách với vẻ đẹp lý tưởng của một bãi biển miền Trung cùng nét riêng của những con sóng mạnh như muốn cuốn trôi tất cả ra biển.
Bãi Cóc
Toạ lạc trong khu vực vịnh Vĩnh Hy, bãi Cóc tuyệt đẹp với nước trong, những tảng đá lớn nhỏ rải rác và cát vàng. Có điều du khách ít biết đến nó như một bãi biển đẹp để vùng vẫy trong làn nước mát mà là nơi bán hải sản tươi ngon của vịnh Vĩnh Hy. Ngoài nguyên nhân thời gian các tàu dừng lại để khách khám phá nơi đây quá ít - chỉ kịp thưởng thức bữa tiệc hải sản tươi ngon, thì ánh nắng như thiêu đốt mọi thứ của nơi này khiến rất ít du khách can đảm nhảy xuống tắm.
Bãi Đá Nhảy
Gọi là bải Đá Nhảy bởi nhìn gần hay xa thì dưới những đợt sóng, những tảng đá nhiều hình dạng nằm rải rác trên bờ biển tựa như đang nhấp nhô trong làn nước khiến bức tranh phong cảnh biển càng phong thêm phong phú và sôi động. Đến đây, ngoài tắm biển, chinh phục các tảng đá, du khách còn có cơ hội thưởng thức những giọt nước trong veo, mát lạnh của giếng Cóc, một giếng nước ẩn mình dưới một tảng đá lớn ngay cạnh bờ biển nhưng cho nước ngọt quanh năm.
Biển ở đảo Lý Sơn
Không có những tảng đá lớn như bãi Đá Nhảy, cũng không có những viên sỏi nhiều màu sắc như Cổ Thạch mà chỉ là những mảnh vôi của san hô vụn, thế nhưng những viên đá trắng trải dài từ bờ ra biển, nối cả những viên sỏi nhỏ dưới đáy của các bãi biển tại đảo Bé (thuộc huyện đảo Lý Sơn) cũng khiến du khách không thể rời mắt hay không trước khi rời đi, để lại lời hứa sẽ quay lại lần nữa.
Bãi Hoàng Hậu
Nếu bãi đá 7 màu chỉ là những viên sỏi nhiều màu sắc, nhiều hình dáng đã mang đến cho Cổ Thạch vẻ đẹp khó cưỡng, thì những viên đá khổng lồ trơn mịn nhiều kích thước tại bãi biển Hoàng Hậu lại càng nổi bật. Những tảng đá này cũng là lý do chính khiến bãi biển này vừa mang vẻ mộc mạc vừa ẩn giấu nét tinh tế, sang trọng.
Ngoài ra, khi ngâm mình trong làn nuớc mát tại đây, bạn sẽ được trải nghiệm bãi biển của vua chùa - ngày truớc mỗi lần có dịp đến đây, Nam Phương Hoàng Hậu đều chọn bãi biển này.
Du lịch, GO! tổng hợp từ Infonet và nhiều nguồn khác
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








































