Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Lang thang xứ chè cổ thụ

(Vntravellive) - Cái nôi các giống chè Việt Nam không đâu khác là các tỉnh phía Bắc. Hà Nội có "Giếng nước hè, chè Cam Lâm", Sơn La có chè Tà Sùa, chè Tô Múa - "Gái Mường Tè, chè Tô Múa", Thái Nguyên lại có chè Tân Cương - "Chè Thái gái Tuyên". Cao Bằng có chè đắng. Hà Giang có Shan Tuyết Vị Xuyên, Yên Minh... Nhưng có lẽ không đâu có chè Shan Tuyết nổi tiếng bằng Suối Giàng - Yên Bái.

Con đường lên “xứ trời” mờ ảo trong làn mây trắng. Mây vây quanh mình, mây phủ kín núi non, con đường lên đỉnh Chông Páo Mùa như dải lụa nhỏ vắt ngang lưng chừng trời. Xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn quanh năm ở độ cao 1400m là nơi tập trung nhiều chè Shan Tuyết cổ thụ của tỉnh Yên Bái.

Vừa đến xã Suối Giàng, ập ngay vào mắt là ngôi nhà nhỏ với 7 cây chè Shan Tuyết cổ thụ trong vườn. Đó là nhà anh Luân và chị Giàng Thị Xá. Theo lời anh Luân, những cây chè trong vườn đã có rất lâu đời, có cây hơn 400 năm, có cây đến gần 700 năm tuổi. Xưa ông cụ tổ ở đây cũng làm nghề hái chè làm chè, truyền bao đời cho đến tận bây giờ. Những thân chè cổ thụ xù xì như minh chứng cho bao cuộc bể dâu, sừng sững đó, hiên ngang giữa đất trời. Trải qua hàng trăm năm nhưng những cây chè vẫn xanh tốt xum xuê.

Ở độ cao này, cả bản Suối Giàng gần như quanh năm mây mù bao phủ, thân chè, lá chè cũng vì thế mà hấp thụ tinh hoa của đất trời. Người Mông tin rằng sự sống những cây chè Shan Tuyết có một nửa là từ đất, một nửa là từ trời.

Thân chè hấp thụ khí trời mà thêm vững chãi. Lá chè hấp thụ mây sương mà thêm xanh thêm dày. Nâng chén trà là như ôm cả đất trời vào lòng. Uống ngụm chè Shan Tuyết - Suối Giàng là uống cả tinh hoa đất trời nơi đây.

Gọi là Shan Tuyết vì ở mỗi đọt chè có một búp non trắng và có lông tơ mịn, khi sương quanh năm bao phủ tạo nên một lớp mỏng li ti trên búp non làm búp nhìn trắng như tuyết. Khi búp non này đem sao thì không biến thành màu đen mà vẫn nguyên màu trắng. Chính búp non này mà chè được gọi là Shan Tuyết.

Rời Suối Giàng tôi đến với Phình Hồ, một bản người Mông thuộc huyện Trạm Tấu - Yên Bái nơi những con người nơi đây quanh năm làm bạn với gió và mây, nơi có nhiều truyền thuyết thú vị, và là nơi mà người ta nói có nấc thang lên thiên đường. Nhưng lần này tôi đến Phình Hồ cũng là vì chè cổ thụ.

Con đường lên Phình Hồ đang được làm nên nói khó cũng không quá mà dễ cũng không hẳn, nhưng cũng đủ để bạn phải mệt mỏi khi đi vào mùa mưa. Những con dốc lên rất gắt, những khúc ngoặt cùi chõ nguy hiểm, khi xe vượt qua một khúc ngoặt bạn sẽ ngợp thở trước không gian mênh mông hùng vĩ của núi rừng tây bắc mở ra trước tầm mắt. Bạn sẽ nhận ra ngay bản Phình Hồ khi vừa tới nơi, bởi hình ảnh rất đặc trưng, những cây chè cổ thụ mọc khắp các sườn đồi, vây quanh nhà.

Đây bản Phình Hồ ẩn hiện trong làn mây, những còn đường đất nhỏ len lỏi rồi chạy sâu vào bản làng, leo lên những sườn núi rồi mất hút trong mây. Những mái nhà người Mông lợp bằng gỗ pơmu, sẫm đen thấp thoáng, một chút bình yên dung dị dần lan tỏa trong tâm hồn.

Chè ở Phình Hồ khác ở Suối Giàng là thân thường rất cao chứ không xòe nhánh nhóc. Theo anh Dũng - Giám đốc viện Khoa học Kỹ thuật VAST VN, cũng là một chuyên gia nghiên cứu về văn hóa chè VN -cho biết, chè ở Suối Giàng do có sự cắt tỉa của người Mông khi hái chè nên qua hàng trăm năm thân chè sẽ phát triển đâm nhánh nhóc ngang; còn những thân chè ít được tỉa sẽ phát triển thẳng. Như vậy có lẽ vùng chè Phình Hồ "hoang dã" hơn chăng?

Cách đây khoảng 7 tháng, tình cờ đọc được một loạt bài của anh Ngọc Dương bên VTC News viết về một rừng chè cổ thụ có hàng ngàn năm tuổi với vô số những cây chè cao hàng chục mét thân vài người ôm. Loạt bài viết này đã tạo tiếng vang rất lớn, và cũng chính vì bài viết đó đã làm tôi trằn trọc băn khoăn mãi không yên. Phần vốn lớn lên ở xứ chè B'Lao nên niềm yêu thích đối với chè đã ngấm sâu vào người phần lại yêu thích du lịch, luôn muốn tìm về những vùng đất lạ với nhiều "kỳ hoa dị thảo" nên ý tưởng thực hiện chuyến đi này cứ thôi thúc mãi không thôi.

Đường đi rừng chè cổ có phần giống như đường đi leo Fansipan, từ Trạm Tôn leo lên lán 2.200m rồi từ đó rẽ theo đường Sín Chải đi tiếp sẽ có đường rẽ vào rừng chè. Càng đi vào sâu, những cây chè bắt đầu dần hiện ra trước mắt. Ở độ cao này, mây thường vây phủ kín, cứ một cơn gió mây lại tan, một cơn gió mây là dày đặc.

Những cây chè cổ thụ quanh năm hấp thụ khí trời, ở cao độ này chốc chốc là cả cây cả lá lại chìm trong mây mù. Lớp mùn dưới những gốc chè dày đến cả mét. Những thân chè vút tận vào mây. Lá chè lúc nào cũng xanh mướt ướt đẫm.

Tôi cố tìm dưới đất xem có lá chè rụng không nhưng chỉ hoài công, hiếm hoi lắm thì thấy vài quả chè xanh, phần lớn là hoa chè. Qua trò chuyện với anh Huấn, rồi khi trở về có dịp trò chuyện với chị Viên Trân - nghệ nhân trà đạo, anh Trịnh Quang Dũng - chuyên gia nghiên cứu về chè, một số thông tin thú vị dần hé mở. Tất cả những cây chè thân gỗ đều gọi là chè cổ thụ. Những cây chè ở Suối Giàng cũng cùng họ với giống chè này nhưng do hàng trăm năm trước đã được người Mông biết và khai thác. Khi khai thác họ đã có sự tỉa cành, ngắt đọt nên cây chè không  phát triển chiều cao tự nhiên nên chỉ dừng ở khoảng vài mét. Chè ở Suối Giàng cũng đã có cây khoảng 700 năm tuổi cao chừng 6 -8 mét. Vậy thì chè Hoàng Liên Sơn cao đến 20 - 30m thì tuổi thọ có thể đến hơn ngàn năm.

Bên cạnh đó, trong điều kiện khắc nghiệt của thời tiết ở độ cao từ 2.000 - 2.500m, quanh năm giá rét, mây mù đã hạn chế rất nhiều sự phát triển nên phải mất rất nhiều năm vòng thân cây mới tăng được 1mm. Vậy nên với những cây chè 1,2 người ôm thì tuổi thọ trên 1.000 năm là điều có thể tin được. Theo anh Huấn kể lại, rừng chè này một người bạn anh đã đi cả tuần lễ cũng không ra hết được, có thể kéo dài cả qua Văn Bàn rồi còn rộng mãi. Chỗ tôi đến chỉ trong một diện tích khoảng chừng 100m2 thôi cũng đã có khoảng chừng vài chục cây chè, vậy nên rừng chè này có thể có cả triệu cây.

Theo tư liệu của hiệp hội chè Việt Nam, những cây chè thân gỗ thường thuộc họ chè Shan, chè Assamica (thường có nhiều ở Ấn Độ); chỉ có loại này mới đạt đến độ cao trên 15m, song loại này lại không chịu được thời tiết hạn, rét, mọc ở đồng bằng mà thôi. Trong khi đó, chè Hoàng Liên Sơn lại ở cao độ 2.000 - 2.500, quanh năm giá rét khắc nghiệt. Vậy đây có phải một loại mới chưa từng biết đến? Cách để nhận dạng cây chè khác với các loại đỗ quyên, dẻ, lim táu là thân chè thường có mốc trắng. Đối với chè thì nhiệt độ tốt nhất để sinh trưởng là 18-30 độ C. Nếu nhiệt độ thấp, cây có khả năng chết rét hoặc giảm thiểu quá trình sinh trưởng.

Gian nan vất vả cũng đã vượt qua, thử thách cũng đã nếm đủ rồi giờ là lúc hưởng thụ. Còn gì thú hơn khi được thưởng thức ngụm chè ngàn năm ngay giữa bạt ngàn rừng chè Hoàng Liên, có gió, có mây, có núi rừng làm bạn. Các cụ xưa uống chè vẫn nói, để có ngụm chè ngon thì phải: "Nhất nước, nhì trà, tam pha, tứ ấm", nước ngon phải là sơn thủy thượng, tức lấy nước trên núi cao. Anh Huấn đã nhiệt tình đi lấy một ấm đầy nước suối. Còn về chè thì không có gì tuyệt diệu hơn nữa, mỗi lá chè cổ thụ đã hấp thụ biết bao tinh hoa đất trời, vừa ngắt xuống sương mây còn vương trên lá.

Theo người Mông ở đây, cách pha chè rất đơn giản, cứ ngắt lá chè vò nát rồi đợi nước sôi, đun chừng 10-15 phút. Khi đun, lấy lá chè nút vòi ấm lại cho hơi không thoát ra. Còn về ấm thì đây cũng chẳng phải Oolong mà dùng ấm tử sa, cũng không phải chè Thái mà đun ấm Bát Tràng, thế nên cứ ấm Mông mà đun là tuyệt nhất.

Khôn tả xiết nỗi vui mừng, trong giá lạnh của núi rừng, trong mây trắng lững lờ bao phủ, trong khung cảnh núi rừng hoang vu, ngọn lửa nhỏ bừng cháy, tiếng củi nổ lép bép, tiếng reo của nước sôi, thôi thúc cảm xúc mãnh liệt đến cùng cực, phút giây này thật sự xúc động. Giờ đây khi ngồi nhâm nhi tách trà Oolong và nhớ lại chè cổ ngàn năm Hoàng Liên Sơn lại thấy lòng bâng khuâng khó tả.

Thông tin thêm:

+ Đường đi: Từ Hà Nội đi Nghĩa Lộ, đến xã Suối Giàng, xã Phình Hồ. Đêm ngủ ở Nghĩa Lộ.
+ Đường đi rừng chè Hoàng Liên Sơn là đường leo Fansipan theo hướng Trạm Tôn.
+ Phương tiện: Đi xe khách từ Hà Nội lên Nghĩa Lộ. Sau đó thuê xe máy khám phá Suối Giàng, Phình Hồ. Đi xe khách từ Nghĩa Lộ lên Trạm kiểm lâm Núi Xẻ, làm thủ tục xin phép đi rừng chè cổ thụ.
+ Lưu trú: Khách sạn Mường Lò, Nghĩa Lộ (Tel: 029.3872888).

Theo Ngô Trần (Vntravellive.com)
Du lịch, GO!

Đi máy bay dùng giấy tờ gì?

(TTO) - Cục Hàng không VN cho biết để đảm bảo an ninh, an toàn cho các chuyến bay và thuận tiện cho hành khách khi đi máy bay, hành khách phải sử dụng các loại giấy tờ sau mới được phép làm thủ tục lên máy bay.

Các loại giấy tờ hành khách được sử dụng khi làm thủ tục đi máy bay được trích phụ lục XIII Thông tư số 30/2012/TT-BGTVT ngày 1-8-2013 của Bộ Giao thông vận tải:

1. Hành khách khi làm thủ tục đi máy bay trên các chuyến bay quốc tế phải xuất trình một trong các loại giấy tờ sau:

* Hộ chiếu.
* Giấy thông hành hoặc giấy tờ khác có giá trị xuất nhập cảnh theo quy định của pháp luật như thị thực rời, thẻ thường trú, thẻ tạm trú (sau đây gọi chung là hộ chiếu).

Trường hợp trẻ em không có hộ chiếu riêng thì họ tên, ngày tháng năm sinh và ảnh của trẻ em được ghi và dán vào hộ chiếu của người đại diện theo pháp luật, bao gồm: cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi hoặc người giám hộ.

2. Hành khách từ 14 tuổi trở lên khi làm thủ tục đi máy bay trên các chuyến bay nội địa phải xuất trình:

a) Đối với hành khách mang quốc tịch nước ngoài:
Hộ chiếu hoặc công hàm của cơ quan ngoại giao, lãnh sự xác nhận nhân thân của hành khách, có dán ảnh, dấu giáp lai và đơn giải trình mất hộ chiếu của hành khách có xác nhận của công an địa phương.

b) Đối với hành khách mang quốc tịch Việt Nam phải xuất trình một trong các loại giấy tờ sau:

* Hộ chiếu.
* Chứng minh nhân dân.
* Giấy chứng minh, chứng nhận của các lực lượng vũ trang.
* Thẻ đại biểu Quốc hội.
* Thẻ đảng viên.
* Thẻ nhà báo.
* Giấy phép lái xe ôtô, môtô.
* Thẻ kiểm soát an ninh hàng không; thẻ nhận dạng của các hãng hàng không Việt Nam.
* Giấy chứng nhận nhân thân có xác nhận của công an phường, xã nơi cư trú (mẫu kèm theo).

3. Hành khách dưới 14 tuổi khi làm thủ tục đi máy bay trên các chuyến bay nội địa phải xuất trình các loại giấy tờ sau:

a) Đối với hành khách mang quốc tịch nước ngoài:

- Hộ chiếu.

b) Đối với hành khách mang quốc tịch Việt Nam phải xuất trình một trong các loại giấy tờ sau:

- Hộ chiếu.
- Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao có chứng thực).
- Giấy chứng sinh (đối với trường hợp dưới 1 tháng tuổi chưa có giấy khai sinh).
- Giấy xác nhận của tổ chức xã hội đối với trẻ em do tổ chức xã hội đang nuôi dưỡng (có giá trị sử dụng trong thời gian 6 tháng kể từ ngày xác nhận).

4. Hành khách từ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi không có hộ chiếu hoặc hành khách dưới 12 tuổi phải đáp ứng một trong các yêu cầu sau đây:

a) Đi cùng với người đại diện theo pháp luật.

b) Đi cùng với hành khách là người làm thủ tục đi tàu bay và đi cùng suốt hành trình, được đăng ký với hãng hàng không khi mua vé.

c) Có cam kết của đại diện hãng hàng không vận chuyển ban đầu trong việc chăm sóc hành khách đến điểm cuối của hành trình.

5. Các loại giấy tờ trên phải đảm bảo các điều kiện sau:

a) Còn hiệu lực theo thời hạn ghi trên giấy tờ:

- Đối với chứng minh nhân dân, có giá trị sử dụng 15 năm kể từ ngày cấp (Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 3-2-1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngày 19-11-2007 của Chính phủ).

- Đối với giấy chứng nhận nhân thân có xác nhận của công an phường, xã nơi cư trú, có giá trị sử dụng 30 ngày kể từ ngày xác nhận (căn cứ thời gian cấp lại chứng minh nhân dân quy định tại Thông tư số 04/1999/TT-BCA (C13) ngày 29-4-1999 của Bộ Công an hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 3-2-1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân).

b) Có ảnh đóng dấu giáp lai (trừ giấy khai sinh, giấy chứng sinh của trẻ em, thẻ kiểm soát an ninh, thẻ nhận dạng của các hãng hàng không).

Theo Lê Nam (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Chùa Diệu Đế - Nét xưa còn lại

(Dulichhue) - Chùa Diệu Đế toạ lạc bên bờ sông Hộ Thành, người Huế gọi là sông Gia Hội, hoặc sông Đông Ba, nay là số 100B đường Bạch Đằng, gần cầu Gia Hội.

Chùa Diệu Đế có một vị trí quan trọng trong lịch sử Phật Giáo ở Huế. Chùa nguyên là phủ của vua Thiệu Trị trước khi lên ngôi nên đã có cảnh quan rất đẹp, với vườn tược rộng rãi, cây cối xanh tươi. Năm 1844 nhà vua đã tôn tạo và sắc phong làm Quốc tự. Chùa trở thành một danh lam của đất kinh kỳ.
Diệu Ðế là ngôi quốc tự thứ ba, được vua Thiệu Trị coi là một trong hai mươi thắng cảnh của đất kinh đô Huế.

Chùa được vua Thiệu Trị truyền lệnh xây dựng với qui mô lớn vào các năm 1842, 1844 khi mới lên ngôi vài năm, trên vùng đất nhà vua đã ra đời.

Khuôn viên chùa nằm gọn giữa bốn con đường: phía trước là đường Bạch Ðằng chạy dọc theo một nhánh sông Hương, phía sau là đường Tô Hiến Thành gần chùa Diệu Hỷ, bên trái là con đường mang tên chùa Diệu Đế và bên phải là đường chùa Ông. Kiến trúc ban đầu của chùa rất qui mô. Tuy không đẹp bằng chùa Thiên Mụ, nhưng chùa Diệu Ðế có vẻ độc đáo riêng, có bốn lầu (hai lầu chuông, một lầu trống và một lầu bia).

Chính điện là đại giác, tả hữu chính điện là Thiền Đường, phía trước điện dựng gác Ðạo Nguyên hai tầng ba gian, sau gác Ðạo Nguyên có hai lầu chuông trống xây cân đối ở hai bên, chính giữa là lầu Hộ Pháp, sân trong có La Thành, sân trước có hai nhà lục giác, nhà bên tả đặt hồng chung, nhà bên hữu dựng bia lớn khắc bài văn do vua Thiệu Trị soạn.

Hệ thống La Thành ngoài chùa Diệu Ðế xây dựng kiên cố, bề thế, trước có Phượng Môn ba cửa, hai bên có cổng nhỏ, ngoài bờ sông có xây bến thuyền khoảng mười bậc lên xuống.

Trước đây, chùa Diệu Ðế có nhiều tượng Phật do được chuyển từ chùa Giác Hoàng, sau sự kiện Kinh đô thất thủ (1885). Cuối năm này, chính phủ Nam Triều đặt sở Đúc Tiền ở Cát Tường Từ Thất, phủ đường Thừa Thiên ở Trí Tuệ Tịnh Xá và một tăng phòng làm nhà lao của tỉnh, một tăng phòng làm trụ sở cho Khâm Thiên Giám. Năm 1887 phần lớn các ngôi nhà trong chùa đều bị triệt hạ...về sau, ngoài cổng La Thành xây thêm bốn trụ biểu.

Hiện nay, chùa chỉ còn chính điện, hai bên chính điện đặt Bát Bộ Kim Cang, phía sau có một nhà khách, một bếp. Sân ngoài có nhà bia, nhà chuông, ngoài cùng là cổng Tam Quan hai tầng, phía trên có lầu Hộ Pháp.

Theo DulichHue
Du lịch, GO!

Cốm dẹp thơm ngày lễ cúng Trăng

(TTO) - Không chỉ là món ăn truyền thống, với người Khmer Nam bộ, cốm dẹp còn là vật phẩm để cúng Trăng trong lễ Ok-om-bok để tưởng nhớ công ơn mặt trăng, vị thần điều tiết mùa màng, mang lại ấm no hạnh phúc cho con người.

Bà con người Khmer, chủ yếu tại hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh hầu hết sống bằng nghề trồng lúa nước và rẫy bái theo hai mùa mưa nắng. Hằng năm vào ngày 15-10 âm lịch (lịch Khmer gọi là rằm ca đắc) cũng là thời gian thu hoạch hoa màu. Lúa nếp thu hoạch sớm nhất, nên người ta chọn nếp làm cốm dẹp dâng cúng thần mặt trăng và mọi người cùng thưởng thức với hy vọng năm sau mùa màng sẽ tiếp tục bội thu, người người an cư lạc nghiệp.


< Nếp được rang trong nồi đất (mỗi lần chỉ rang 1 tô, khoảng 0,5 kg).

Theo tục lệ cổ truyền, vào đêm rằm, khi mặt trăng vừa lên cao, tỏa sáng khắp mọi nơi, bà con tập trung tại sân chùa hoặc sân nhà để làm lễ cúng trăng, vật cúng thường là bánh, trái, khoai lang và cốm dẹp. Khi hành lễ mọi người cùng quay mặt về hướng mặt trăng cầu nguyện cho gia đình sức khỏe dồi dào, mùa màng tươi tốt.

Cúng xong, vị sãi cả hoặc chủ lễ gọi các em bé đến cùng chắp tay hướng về mặt trăng rồi đút cho mỗi em một vắt cốm dẹp, có khi cốm dẹp kèm theo trái chuối hoặc trái cây với ước mong các em quanh năm no đủ, vui vẻ hạnh phúc và sức khỏe dồi dào.

Vào những ngày này bà con ở Trà Vinh, Sóc Trăng và những nơi có đông đảo bà con người Khmer sinh sống đều rộn ràng quết (giã) cốm dẹp để phục vụ cho ngày hội lớn. Rộn ràng nhất là làng cốm dẹp Ba So ở xã Nhị Trường, huyện Cầu Ngang (Trà Vinh) với hơn 50 gia đình làm cốm dẹp quanh năm, bình quân mỗi hộ quết 5 giạ nếp/ngày. Từ nhiều thập kỷ qua, thương hiệu cốm dẹp Ba So đã lan tỏa khắp các tỉnh miền Tây.

< Quết (giã) cốm dẹp bằng chày (hai người quết, một người giữ cối).

Từ xa xưa, lễ cúng Trăng đã mang một ý nghĩa sâu sắc - một thứ văn hóa tâm linh nên bà con đã dành ra nhiều tình cảm và công sức để hóa thân cây lúa nếp trở thành món bánh truyền thống trong văn hóa ẩm thực Việt Nam và ngày càng thăng hoa.

Muốn có một đĩa cốm dẹp thơm ngon, béo bùi bà con phải chọn cho được loại nếp rặt, vừa chín tới, hạt còn mềm đem về phơi sơ qua rồi cho vào nồi đất rang đến khi nào mùi thơm bốc lên mới đem đi quết.

< Giai đoạn sàng, sẩy cốm dẹp cho sạch cám.

Công đoạn quết rất quan trọng và cũng là bí quyết làm nên chất lượng. Thường phải hai người quết, một người theo dõi túi nếp. Khi quết phải nhanh tay, đều và quết trong vòng 2 phút là kết thúc, vì nếu quất chậm hạt nếp rang sẽ nguội, chày nện xuống không còn tác dụng nữa. Công đoạn kế tiếp là sàng, sảy cho sạch cám, chỉ giữ lại những hạt cốm thơm tho, trắng tuyền.

Trước khi ăn, người ta trộn cốm với dừa nạo, đường cát, thêm chút nước dừa độ chừng 15 phút cho cốm mềm ra, xốp và dẻo. Cốm dẹp có thể ăn bằng muỗng, cuốn bánh tráng ngọt, bánh phồng hoặc dùng lá chuối, lá sen bao lại, hương vị từ lá sẽ toát lên một mùi thơm thoang thoảng, mùi vị tự nhiên và thanh khiết.

< Cốm dẹp đã thành phẩm.

Trong ngày lễ Ok-om-bok, sau khi tiến hành lễ cúng trăng các sư sãi và mọi người quây quần bên nhau để thưởng thức bánh trái và cốm dẹp, cùng hướng về trăng và hồn lúa. Tất cả cùng múa hát và chúc phúc cho nhau trong tinh thần đoàn kết tương thân tương ái.

Người Khmer Nam bộ có ba ngày lễ Tết quan trọng, đó là Dol-ta, Chol-chnam-thmay và Ok-om-bok. Theo phong tục cổ truyền, vào rằm tháng 10 âm lịch hàng năm, khi con trăng tròn đầy là đồng bào Khmer, đặc biệt tại hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh lại long trọng tổ chức lễ Ok-om-bok, còn gọi là lễ cúng trăng, lễ đúc cốm dẹp để tưởng nhớ công ơn mặt trăng.

Năm nay là lần đầu tiên lễ hội Ok-om-bok kết hợp đua ghe ngo của đồng bào Khmer được nâng lên Festival (diễn ta từ ngày 14 đến 17-11 tại Sóc Trăng), được tôn vinh thành lễ hội cấp quốc gia. Do đó, lễ cúng trăng năm nay sẽ được sân khấu hóa một cách trang trọng và mang nhiều ý nghĩa văn hóa của đồng bào dân tộc.

Theo Hoài Vũ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Hút chết vì lở núi.

(Giải trí) - Mặc dù được cảnh báo núi tại khu vực miền Bắc nước Pháp không ổn định song một du khách vẫn “cả gan” nằm tắm nắng trên bãi biển gần nơi này. Người này sau đó đã suýt bị đoạt mạng khi vách núi bất ngờ đồ sụp.

< Cô gái nằm tắm nắng ngay cạnh vách núi dù được cảnh báo nguy hiểm.

Vài nhân viên cứu hộ thấy vậy đã chạy đến đó để kiểm tra xem nữ du khách này có bị ảnh hưởng gì không. May mắn, cô gái này không bị thương mà chỉ bị phủ bụi từ đầu đến chân. Du khách người Anh Maurice Thomas, 74 tuổi, ở gần đó đã kịp thời chụp lại được khoảnh khắc khi vách đá sụp đổ.

< Vách núi đá lở ngay sát chỗ cô gái ngồi.

Ông Maurice cho biết: “Tôi nghe thấy một âm thanh rất lớn, lớn hơn cả tiếng sấm sét và đó là tiếng vách đá sụp xuống. Rất may là cô gái ở bên dưới vẫn bình an vô sự”.

< Sự việc xẩy ra rất nhanh nên cô gái không có phản ứng gì kịp ngoài cách sửng sốt nhìn.

Thường xuyên đi nghỉ ở khu vực này, ông Maurice chia sẻ: “Tôi đã rất may mắn, vì tôi thường đi bộ dưới những vách đá. Tuy nhiên thời gian này, tôi lại không làm điều đó nữa bởi thủy triều lên quá cao và điều đó có thể dẫn đến lở vách đá”.

< Nhân viên cứu hộ chạy tới kiểm tra xem du khách nằm gần vách đá lở có bị thương hay không.

Cô gái này rất may mắn vì không hề bị thương mà chỉ bị phủ bụi từ đầu đến chân.

Theo Dân Việt
Du lịch, GO!
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...